Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở cấp THPT
Kiểm tra, đánh giá (KTĐG) chất lượng học tập là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học (DH) ở nhà trường phổ thông, giúp đánh giá năng lực (NL) người học và điều chỉnh phương pháp dạy học (PPDH). Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW, ngày 6/3/2014 Bộ GD&ĐT đã ban hành kế hoạch số 103/KH-BGDĐT về việc tổ chức hội thảo “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông”, với mục đích: nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng kế hoạch triển khai việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học với cách thức xây dựng đề thi/kiểm tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyết vấn đề thực tiễn. Để chuẩn bị cho Hội thảo (dự kiến được tổ chức tại Hà Nội trung tuần tháng 4/2014), báo Giáo dục và Thời đại giới thiệu một số bài viết thảo luận về vấn đề nêu trên. Để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và xu thế quốc tế, cần đổi mới KTĐG chất lượng học tập môn Ngữ văn nói chung và nhất là ở cấp trung học phổ thông (THPT), bởi nó có tác động trực tiếp đến hai kì thi mang tầm quốc gia đối với học sinh (HS), gồm thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) theo định hướng phát triển NL người học.
Vì sao phải đổi mới KTĐG chất lượng học tập môn Ngữ văn ở THPT?

Hiện nay, việc KTĐG chất lượng học tập môn Ngữ văn ở bậc THPT có nhiều bất cập, chưa “đo” được NL của người học và chưa góp phần điều chỉnh, đổi mới PPDH. Các đề kiểm tra thường xuyên, đề kiểm tra định kì, đề thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào ĐH, CĐ hầu như được ra theo dạng “đề đóng”, tính tích hợp (giữa các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học và liên môn) chưa cao. Các câu hỏi chủ yếu đánh giá HS ở hai mức nhận biết và thông hiểu. Phần lớn nội dung các đề thi kiểm tra kiến thức về văn học, về chính những văn bản (VB) đã học trong chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK). 

Để làm bài, HS thường phải ghi nhớ máy móc nội dung bài học. Đáp án của đề thi đưa ra hệ thống ý mà HS phải trình bày cùng với biểu điểm hết sức cụ thể, chi tiết. Cách làm này mang tính áp đặt, nếu HS không làm đúng như đáp án sẽ không có điểm. 

Có hạn chế này là do CT môn Ngữ văn hiện hành thiên về cung cấp kiến thức văn học nên hầu hết các chuẩn về kĩ năng đọc, viết đều liên quan đến văn học; các chuẩn chưa được cụ thể hóa thành những kĩ năng, thao tác cụ thể (“mức độ cần đạt” thường là “hiểu, cảm nhận được những nét chính về nội dung và nghệ thuật”, “bước đầu hiểu một số đặc điểm về thể loại”; phần “diễn giải” thường nêu các kĩ năng đi kèm là “nhớ, đọc thuộc lòng”, trong đó “nhớ” chiếm tỉ lệ nhiều hơn cả. 

Những yếu tố đi đằng sau các động từ này thường là những đặc điểm chính về nội dung và nghệ thuật của một VB cụ thể) nên chưa đo được năng lực của HS; các chuẩn kiến thức, kĩ năng được nêu là những chuẩn cần đạt với những VB cụ thể trong CT, SGK nên khó áp dụng với các VB ngoài CT... 

Với đặc điểm đó, các đề thi chưa đánh giá được toàn diện NL ngữ văn của người học, chưa khuyến khích được sự sáng tạo của HS trong làm bài. Ngoài ra, với tâm lí dạy và học khá thực dụng, hầu hết các câu hỏi trong bài kiểm tra thường xuyên và định kì đều ra theo “mẫu”, “dạng” của các đề thi tốt nghiệp và tuyển sinh ĐH, CĐ.

Tính “ổn định” trong cách ra đề và làm đáp án của hai kì thi quốc gia này có ảnh hưởng vô cùng lớn với việc KTĐG kết quả học tập và PPDH Ngữ văn trong nhà trường phổ thông.

Trong những năm gần đây, chúng ta đang nghiên cứu và đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT), trong đó có CT môn Ngữ văn theo hướng tiếp cận NL. Việt Nam cũng đã tham gia Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) và đạt được kết quả hết sức khả quan, nhất là ở lĩnh vực đọc hiểu. 

Trên thực tế, NL Ngữ văn của HS phong phú hơn nhiều so với những “chuẩn” nêu ở trong CT hiện hành. Vì vậy, không cần phải đợi đến khi có CTGDPT môn Ngữ văn theo hướng tiếp cận NL ra đời mới đổi mới KTĐG chất lượng học tập Ngữ văn của HS theo hướng đánh giá NL, mà ngay từ bây giờ cũng có thể đổi mới dần việc KTĐG theo hướng này để phát huy được vai trò của KTĐG trong quá trình DH.

Những năng lực nào của HS cần KTĐG trong môn Ngữ văn ở THPT?

Ở nhà trường phổ thông, mục tiêu của môn Ngữ văn là hình thành và phát triển ở HS năng lực chung - NL giao tiếp (kiến thức tiếng Việt cùng với 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống) và NL chuyên biệt - NL văn học (gồm tiếp nhận/cảm thụ văn học, sáng tác văn học; tuy nhiên, nhà trường phổ thông không đặt ra mục tiêu hình thành và bồi dưỡng NL sáng tác văn học cho HS). 

Nói gọn hơn, môn Ngữ văn hình thành, bồi dưỡng cho HS năng lực tiếp nhận VB (gồm kĩ năng nghe và đọc) và NL tạo lập VB (gồm kĩ năng nói và viết). Khái niệm “văn bản” được mở rộng, bao gồm cả VB văn học và VB thông tin.

Để đánh giá được các NL Ngữ văn của HS, cần có những bộ công cụ phù hợp với mục đích của từng bài kiểm tra, kì thi. Việc KTĐG thường xuyên và định kì phải mang tính chất rèn luyện, thực hành để chuẩn bị cho các kì thi quốc gia.

Đề xuất cách thức KTĐG năng lực Ngữ văn của HS ở THPT hiện nay

KTĐG kĩ năng nghe và nói của HS: Hiện nay, việc KTĐG kĩ năng nghe và nói của HS cấp THPT chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra do CT, SGK và GV chưa coi trọng kĩ năng này. Trên thực tế, nghe và nói là những kĩ năng mà HS phải sử dụng nhiều, nếu không được rèn luyện, năng lực giao tiếp của HS sẽ bị hạn chế.

Việc KTĐG kĩ năng nghe và nói của HS nên được tiến hành thường xuyên trên lớp, qua những hình thức như kiểm tra miệng, phát vấn, trao đổi – thảo luận nhóm… để giúp người học tự tin hơn trong giao tiếp và đạt được hiệu quả cao hơn trong giao tiếp trực tiếp.

KTĐG kĩ năng đọc và năng lực cảm thụ/tiếp nhận văn học của HS

Trong nhà trường phổ thông, kĩ năng “đọc” (chủ yếu là “đọc hiểu”) và NL cảm thụ văn học rất được coi trọng. Phần lớn bài học trong CT và SGK là bài học về VB văn học. Tuy nhiên, càng lên khối lớp cao hơn, nhất là ở các khối lớp của cấp THPT, việc đọc hiểu và cảm thụ lại càng bất cập. 

Do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra khá phổ biến. Trong các giờ DH văn học, HS thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá VB. 

Hơn nữa, VB được đọc hiểu chủ yếu là VB văn học, có rất ít VB thông tin được đưa vào CT, SGK. Việc KTĐG năng lực đọc của HS hiện nay thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu cầu HS nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của VB đã học). 

Hình thức này chưa đánh giá được NL đọc hiểu của người học. Vì vậy, cần đổi mới KTĐG kĩ năng đọc hiểu của HS bằng việc đưa ra những VB mới (bao gồm cả VB văn học và VB thông tin, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với VB đã học), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này. 

Các câu hỏi KTĐG kĩ năng đọc hiểu và cảm thụ nên được thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên những trả lời có sẵn; câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có – không, đúng –sai phức hợp. 

KTĐG kĩ năng đọc của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.

KTĐG kĩ năng viết của HS: 

Ở cấp THPT, kĩ năng viết của HS đã phát triển ở mức độ cao. Về mặt lí thuyết, HS ở cấp học này có thể tạo lập được VB theo những phương thức khác nhau, đặc biệt là có thể viết được bài văn nghị luận nêu được quan điểm, tư tưởng riêng của mình về các vấn đề của đời sống hoặc văn học một cách sâu sắc, có sức thuyết phục.

Tuy nhiên, do cách ra đề và đáp án “đóng”, cùng với việc coi trọng kiến thức văn học, nên các đề kiểm tra viết hiện nay chưa tạo điều kiện cho HS phát biểu những suy nghĩ riêng, sáng tạo và vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của mình. 

Cần đổi mới cách thức KTĐG kĩ năng viết của HS bằng cách ra đề theo hướng mở và tích hợp (trong môn và liên môn). Đề mở chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm chí có những câu trả lời đối ngược nhau miễn là HS bộc lộ được nhận thức và lập luận lôgic trong quá trình đi đến câu trả lời. 

Trong quá trình làm bài, HS cần vận dụng các kiến thức, kĩ năng của các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học cũng như kiến thức liên môn (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,...) để giải quyết vấn đề mà đề bài nêu ra. 

Đáp án không áp đặt nội dung trả lời mà nên nêu được các phương án mà HS có thể trình bày, phân tích được sự hợp lí của các phương án đó; đồng thời, nêu được những yêu cầu về kĩ năng làm bài của HS, khuyến khích HS sử dụng nhiều kĩ năng, thao tác khác nhau trong giải quyết vấn đề; khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, quan điểm riêng của mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và giải quyết vấn đề khác nhau miễn là tư tưởng của người viết không đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức và pháp luật mà xã hội đã quy định; khuyến khích HS vận dụng được những điều đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra một cách có sức thuyết phục, hợp lí, tự nhiên, phù hợp với trình độ của các em.

Cũng như KTĐG kĩ năng đọc, KTĐG kĩ năng viết của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.

Đề xuất đổi mới đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ môn Ngữ văn năm 2014

Trong kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2014, cần đổi mới cách ra đề theo hướng đánh giá NL Ngữ văn của người học và yêu cầu cao dần qua các năm theo hướng sau:

Đề thi gồm 2 phần: Phần 1 (5 điểm): KTĐG kĩ năng đọc của HS (theo hình thức của PISA); Phần 2 (5 điểm): KTĐG kĩ năng viết (làm văn) của HS (theo hướng mở, tích hợp).

Cụ thể là:

Phần 1 (5 điểm). Có 2 phương án ra đề thi:

Phương án 1: Đưa ra một số VB ngắn (gồm cả VB hoàn chỉnh và đoạn văn), lấy từ những nguồn khác nhau, ngoài CT SGK (như sách báo, internet...); nội dung bàn về một vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, y học, khoa học...; thuộc hai dạng: VB văn học và VB thông tin; được viết theo các phong cách ngôn ngữ mà HS THPT đã học, tập trung vào các phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/văn học, khoa học, báo chí, hành chính. 

Các VB phù hợp với trình độ nhận thức của HS; khuyến khích các văn bản có hình thức trình bày đa dạng (gồm cả chữ viết, hình ảnh...).

Xây dựng bộ câu hỏi gồm 5 loại câu hỏi của PISA (như đã nêu ở trên). Hạn chế các câu hỏi nhận biết, tăng cường các câu hỏi thông hiểu và vận dụng. Yêu cầu HS tìm kiếm thông tin từ VB; tích hợp và suy luận thông tin đã đọc; phản ánh và đánh giá, tìm hiểu VB và liên hệ với kinh nghiệm bản thân.

Mục đích của phương án này là KTĐG kĩ năng đọc các loại VB khác nhau.

Phương án 2: Đưa ra một VB văn học (thơ hoặc văn xuôi, có thể là VB hoàn chỉnh hoặc một đoạn trích) không có trong CT, SGK nhưng cùng chủ đề hoặc đề tài và thể loại với các VB đã học. Xây dựng bộ câu hỏi như cách 1.

Mục đích của phương án này là KTĐG kĩ năng đọc VB văn học – loại VB mà HS được học nhiều nhất trong CT, SGK hiện nay.

Cả hai phương án này đều có thể sử dụng để ra đề thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.

Phần 2 (5 điểm). Có 3 phương án ra đề thi:

Phương án 1: Yêu cầu HS viết bài văn nghị luận xã hội.

Dạng đề: tự luận, theo hướng mở, tích hợp liên môn nhằm kiểm tra vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống, khả năng giải quyết vấn đề của HS.

Phương án này phù hợp với đề thi tốt nghiệp THPT vì có thể HS sau khi tốt nghiệp không thi tuyển sinh ĐH, CĐ hoặc lựa chọn các ngành nghề liên quan đến văn học.

Phương án 2: Gồm 2 câu, HS chỉ lựa chọn 1 câu để làm bài:

Câu 1: Yêu cầu HS viết bài văn nghị luận xã hội.

Dạng đề: tự luận, theo hướng mở, tích hợp liên môn nhằm kiểm tra vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống, khả năng giải quyết vấn đề của HS. 

Câu này dự kiến được nhiều HS không thi ĐH, CĐ hoặc không thi vào các trường/ngành khoa học xã hội lựa chọn vì nó phù hợp với trình độ khuynh hướng nghề nghiệp của các em. HS lựa chọn câu này vẫn được đánh giá NL văn học vì ở Phần 1 của đề thi đã có những câu hỏi về VB văn học.

Câu 2: Yêu cầu HS viết bài văn nghị luận văn học.

Dạng đề: tự luận, theo hướng mở, tích hợp trong môn hoặc liên môn nhằm kiểm tra năng lực tiếp nhận/cảm thụ văn học, khả năng trình bày, giải quyết vấn đề của HS. 

Trước mắt, có thể hỏi về một hoặc toàn bộ các vấn đề liên quan đến VB văn học đã học hoặc đọc thêm trong CT, SGK nhưng không yêu cầu HS ghi nhớ máy móc. 

Về sau, sẽ đưa vào đề thi VB văn học mới, có cùng chủ đề hoặc thể loại với các VB đã học trong CT, SGK. Câu này khuyến khích những HS thi tuyển sinh ĐH, CĐ vào các trường/ngành khoa học xã hội lựa chọn vì nó phù hợp với trình độ khuynh hướng nghề nghiệp của các em.

Phương án này có thể sử dụng trong cả kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ.

Phương án 3: Gồm 2 câu, HS chỉ lựa chọn 1 câu để làm bài:

Câu 1: Yêu cầu HS viết bài văn nghị luận văn học về tác phẩm thơ.

Câu 2: Yêu cầu HS viết bài văn nghị luận văn học về tác phẩm văn xuôi hoặc kịch.

Dạng đề: tương tự như Câu 2 của cách 2.

Phương án này dùng cho kì thi tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ có các ngành xã hội.

Ví dụ: Đề thi tốt nghiệp THPT (thời gian làm bài: 120 phút)

Phần I – Đọc hiểu (5 điểm)


Đọc bài thơ sau:

Mẹ và quả

Nguyễn Khoa Điềm

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng

Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời, khi như mặt trăng



Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.



Và chúng tôi, một thứ quả trên đời

Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

(Trích từ Mẹ của nhà thơ, NXB Phụ nữ, 2008)

 

Câu 2: Nêu chủ đề của bài thơ?

Câu 3: Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng?

Câu 4: Nghĩa của “trông” ở dòng thơ Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng là gì?

Câu 5: Trong hai dòng thơ Những mùa quả lặn rồi lại mọc - Như mặt trời, khi như mặt trăng, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Hãy nêu tác dụng của biện pháp so sánh đó.

Câu 6: Ở khổ thơ thứ nhất, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì?

Câu 7: Đặc sắc nghệ thuật của hai dòng thơ: Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên - Còn những bí và bầu thì lớn xuống là gì? A. Sử dụng từ trái nghĩa. B. Sử dụng hình ảnh nhân hóa. C. Sử dụng thủ pháp miêu tả. D. Sử dụng phép tương phản, đối lập.

Câu 8: Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng trong hai dòng thơ Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn -Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi? Ghi lại cảm xúc của em khi đọc hai dòng thơ này.

Câu 9: Ở khổ thơ thứ hai, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Hãy ghi lại cảm xúc của nhà thơ mà em cảm nhận được?

Câu 10: Phần in đậm trong dòng thơ: Và chúng tôi, một thứ quả trên đời được gọi là: A. Phụ chú. B. Khởi ngữ. C. Tình thái. D. Gọi đáp.

Câu 11:
Chữ “hái” trong dòng thơ Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái có nghĩa là gì?

Câu 12: Chữ “mỏi” trong dòng thơ Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi có nghĩa là gì?

Câu 13: Những biện pháp tu từ nào được sử dụng trong hai dòng thơ cuối bài? Tác dụng của những biện pháp đó là gì?

Câu 14: Ở khổ thơ thứ ba, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Hình dung và ghi lại tâm trạng của nhà thơ trong hai dòng thơ cuối bài.

Câu 15:
Suy nghĩ, cảm xúc nào của nhà thơ để lại ấn tượng sâu đậm nhất với em?

Câu 16: Đọc xong bài thơ, em nghĩ đến câu tục ngữ hay ca dao nào? Hãy ghi lại câu tục ngữ hay ca dao đó.

Câu 17: Trong văn học có nhiều tác phẩm viết về tình mẫu tử. Hãy kể tên một số tác phẩm viết về đề tài này mà em đã học hoặc đã đọc. Từ đó, chỉ ra sự khác biệt lớn nhất về mặt nghệ thuật và nội dung của bài thơ Mẹ và quả (Nguyễn Khoa Điềm) với những tác phẩm ấy.

Câu 18: Đọc xong bài thơ, em có suy nghĩ gì về cách ứng xử với cha mẹ của một số người qua những mẩu tin sau?

- Sáng 26/3, Nguyễn Duy Linh (25 tuổi, trú huyện Thanh Oai) bị TAND Hà Nội xét xử về tội giết người. Nạn nhân là mẹ của bị cáo. (Theo http://vnexpress.net ngày 26/3/2014)

- Cụ Nguyễn Văn Quý (84 tuổi) và cụ Nguyễn Thị Chén (82 tuổi), ngụ thôn Đồng Lư, xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, Hà Nội đang sống trong góc nhà nhỏ hẹp khoảng dăm m2, chiếc giường xin được ở đâu nên hai chân còn, hai chân phải lấy gạch kê lên. Tám năm qua, cả 2 cụ bị con cái đẩy ra đường dù đã dựng vợ, gả chồng cho con cái yên ấm. Hiện tại, cụ ông ngày ngày ra đồng mò cua bắt ốc về nuôi cụ bà qua những ngày đói khổ. (Theo http://vietnamnet.vn ngày 27/12/2013)

- Đùn đẩy trách nhiệm không muốn phụng dưỡng mẹ già, các con đã đẩy cụ bà 77 tuổi ra đường trong đêm sương lạnh. (Theo http://ngoisao.net ngày 23/2/2013)

Phần II – Viết (5 điểm):

HS chọn 1 trong 2 câu sau để làm bài:

Câu 1: Các cơ quan quản lí du lịch ở nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới hàng năm đều dành rất nhiều tiền để ủng hộ, đầu tư cho những địa danh nổi tiếng của đất nước. Bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông như áp phích, tạp chí quảng cáo, truyền hình, đài phát thanh, các cơ quan này có thể gửi thông điệp về những cảnh đẹp, và hy vọng sẽ đón được nhiều khách du lịch tới đó. Giả sử bạn được thuê bởi một cơ quan quản lí du lịch, hãy viết một bài văn, trong đó chỉ ra một nơi trên đất nước ta mà khách du lịch có thể tìm thấy nhiều điều thú vị khi đến đó.

Câu 2: Mục đích của Nguyễn Minh Châu khi xây dựng nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa?

Trên đây là một số đề xuất ban đầu về đổi mới KTĐG chất lượng học tập môn Ngữ văn ở cấp THPT. Với ví dụ về đề thi tốt nghiệp THPT (có tham khảo cách làm của PISA và đề thi tốt nghiệp của bang California - Hoa Kỳ), bài viết muốn mở ra một hướng mới trong việc KTĐG năng lực Ngữ văn của người học, góp phần đổi mới PPDH Ngữ văn ở trường THPT trong thời gian tới.

giaoducthoidai.vn

Học liệu xem nhiều
Tiện ích
Hội viên Hội viên
Thành viên mới nhất Người dùng mới nhất Tâm
Sau 24 giờ Sau 24 giờ 0
Trước 24 giờ Trước 24 giờ 0
Số lượng người dùng Tổng quan 5402

Số người trực tuyến Những người đang trực tuyến
Người truy cập Người truy cập 108
Số người dùng Thành viên 0
Tổng số Tổng cộng 108

Thành viên đang trực tuyến Trực tuyến bây giờ

Lượt truy cập thứ